Tiểu sử & Binh nghiệp
Lê Quang Ninh sinh ngày 10 tháng 11 năm 1942, quê quán xã Đạo Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Thành Phố Mỹ Tho), tỉnh Tiền Giang trong một gia đình nho giáo khá giả với truyền thống cách mạng yêu nước. Cha ông, Ông Lê Văn Hổ, là một cán bộ tiền khởi nghĩa đã từng bị Pháp bắt 3 lần. Ông là con áp út gia đình có 15 người con. Tất cả các anh chị của ông đều tham gia hoạt động cách mạng kháng Pháp, chống Mỹ. Sau này, Mẹ ông, Bà Nguyễn Thị Long, được nhà nước CHXHCN Việt Nam truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh Hùng vì đã có nhiều người con hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồng thời Bà đã dành trọn cuộc đời mình nuôi dấu các cán bộ cách mạng.
Năm 1963, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần tại trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), ông được ông Mười Hòa – Trưởng ban Binh Vận tỉnh Mỹ Tho yêu cầu phải đăng ký học khóa Sĩ quan trù bị tại trường Sĩ quan Trù bị Thủ Đức do Quân đội Pháp và Chính phủ Quốc Gia Việt Nam mở ra ở miền Nam Việt Nam, nhằm để hoạt động nội tuyến. Cuối năm 1964, sau khi tốt nghiệp khóa sĩ quan ở Thủ Đức, ông trở thành sĩ quan thuộc Sư đoàn 25 VNCH. Một buổi chiều đầu tháng 4/1975, thiếu tá Lê Quang Ninh nhận được chỉ thị mật của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam: “Từ ngày 25 đến 28/4, phải tổ chức tiểu đoàn làm binh biến, về với cách mạng”.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa
Cuối năm 1964, Lê Quang Ninh tốt nghiệp khóa Sĩ quan tại trường Sĩ quan Trù bị Thủ Đức với cấp bậc Đại úy và được điều về Sư đoàn 25 (với tên gọi Tia Chớp Nhiệt Đới hay Sấm Sét Miền Đông), một sư đoàn “con cưng” của Mỹ-ngụy. Từ năm 1964 đến 1975, với uy tín và tri thức quân sự của mình, Lê Quang Ninh được tướng ngụy Lý Tòng Bá tin tưởng trao cho cấp Thiếu tá, chỉ huy một tiểu đoàn chủ lực tinh nhuệ của địch. Tiểu đoàn 1, trung đoàn 50 là một tiểu đoàn mũi nhọn của cả trung đoàn và sư đoàn 25 VNCH.
Mang quân hàm “Thiếu Tá”, Lê Quang Ninh đã thành công gầy dựng một “vỏ bọc” hoàn hảo trong lòng địch, cùng với lợi thế nhà riêng nằm trong khu gia đình an toàn các quan chức có máu mặt của chính quyền Sài Gòn ở Long An, việc liên lạc giữa Ninh với chị Tư (Tư Nhẫn) càng có điều kiện bảo đảm an toàn, thuận lợi.
Chân dung điệp viên nội tuyến mang bí số 110
Theo truyền thống gia đình, ông dấn thân hoạt động cách mạng bí mật trong tổ chức sinh viên, học sinh Mỹ Tho từ phong trào Đồng Khởi năm 1959. Ông được kết nạp Đảng năm 1963.
Năm 1963, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, ông được ông Mười Hòa – Trưởng ban Binh vận tỉnh yêu cầu phải đăng ký học khóa sĩ quan trù bị Thủ Đức để hoạt động nội tuyến.
Cuối năm 1964, sau khi tốt nghiệp khóa sĩ quan ở Thủ Đức, ông được Ban Binh vận yêu cầu tiếp tục đi sâu vào hàng ngũ quân sự địch. Ông trở thành sĩ quan thuộc Sư đoàn 25 VNCH. Thời điểm đó, Sư đoàn 25 vừa dời hậu cứ từ Quảng Ngãi về Hậu Nghĩa (Đức Hòa) để bảo vệ mạn tây bắc thủ phủ Sài Gòn. Kể từ đó, mọi di biến động và ý đồ quân sự của Sư đoàn 25 đều nằm trong lòng bàn tay của Ban Binh vận Mỹ Tho.
Nhận thấy những tin tức quân sự của ông có giá trị lớn, Tỉnh ủy Mỹ Tho quyết định chuyển giao ông về cho Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Từ đó, ông mang bí số 110 (hoặc T5) và chỉ liên lạc duy nhất với đồng chí Tư Nhẫn, tức Bà Nguyễn Thị Nhẫn – cán bộ giao liên mật của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam.
1975 – Cuộc Binh Biến 28/4 & Ngày Giải Phóng Miền Nam 30/4
Ngày 25/4/1975, từ hai hướng Phước Chỉ (Trảng Bàng) và Trung Hưng (Trung Lập Thượng, Củ Chi) Quân đoàn 3 đã tạo thành gọng kìm áp sát tuyến phòng thủ của Sư đoàn 25 VNCH. Khi các máy bay L.19 do thám bay trên bầu trời Trảng Bàng, Gò Dầu báo cáo đã nhìn thấy “Cộng quân”. Tướng Lý Tòng Bá vội đưa lực lượng ứng cứu cơ động (Tiểu đoàn 1/50 và Thiết đoàn 10) lên án ngữ Lộc Giang.
Sáng ngày 28/4/1975, nhận được lệnh rút quân về Đồng Dù, “thiếu tá” Lê Quang Ninh biết đã đến lúc lật lá bài tẩy. Ông đề nghị cho tiểu đoàn mình đi trước mở đường, 2 tiếng sau các xe tăng của Thiết đoàn 10 mới di chuyển theo. Đề nghị này được chấp nhận. Khi dừng lại ở đình Gia Lộc, ấp Gia Huỳnh (Trảng Bàng). Thiếu tá Ninh thấy đây là địa điểm thuận lợi để tổ chức ly khai phản chiến. Ông mời các sĩ quan trong ban chỉ huy tiểu đoàn, 4 sĩ quan đại đội trưởng hội ý tại chỗ.
Bằng lời lẽ chân thành, Ông phân tích tình hình chính trị Sài Gòn: “Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã bỏ chạy tháo thân ra nước ngoài, Bộ Tổng tham mưu không còn ai. Ta tiếp tục chiến đấu thì chiến đấu cho ai, có ích lợi gì? Tình hình này ta phải tự cứu lấy mình. Tôi yêu cầu các anh em cùng với tôi ly khai quân đội VNCH trở súng về với quân Giải phóng”. Mọi người bất ngờ nhưng chẳng ai có ý kiến gì. “Thiếu tá” Ninh tự giới thiệu mình là người của Mặt trận Giải phóng miền Nam rồi đọc chính sách 7 điểm của Mặt trận. Ông kết thúc bằng câu hỏi: “Anh em có đồng ý phản chiến không?”. Tất cả đồng loạt giơ tay.
Lê Quang Ninh lên danh sách Ủy ban khởi nghĩa phản chiến gồm 6 người bao gồm cả sĩ quan và hạ sĩ trong Ủy ban này:
– Tiểu đoàn phó Lam Sơn (tức Bùi Văn Nam Sơn)
– Đại đội trưởng Lê Kim Thành
– Đại đội trưởng Trương Văn Tuệ
– Hạ sĩ Nguyễn Văn Ngữ
– Hạ sĩ Lê Văn Lữ
Đại úy Tiểu đoàn phó Bùi Văn Nam Sơn được ông cử đi bắt liên lạc với Quân Giải phóng. Đại úy Nam Sơn và hai người lính đeo máy truyền tin vô tuyến, không vũ khí, cột võng lên cây tre làm cờ ám hiệu, chạy xe Jeep hướng về phía Quân Giải phóng đang đóng quân. Bùi Văn Nam Sơn được các cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 98 (Quân đoàn 3 QĐND Việt Nam) tiếp đón.
Sau đó, “thiếu tá” Ninh chạy xe Jeep, rời đình Gia Lộc vào An Thành gặp chỉ huy Trung đoàn 98 cho biết mình là cán bộ cách mạng mang bí số 110 có nhiệm vụ thực hiện cuộc binh biến, đưa binh sĩ về với cách mạng.
Lê Quang Ninh đã đưa hơn 500 quân tinh nhuệ với đầy đủ vũ khí, khí tài vào căn cứ cách mạng thành công.
Qua máy truyền tin vô tuyến, Lê Quang Ninh kêu gọi các đơn vị VNCH buông súng, ly khai với quân đội VNCH. Ông gọi Tiểu khu Tây Ninh, Tiểu khu Hậu Nghĩa, Chi khu Gò Dầu, Chi khu Trảng Bàng; Thiết đoàn 10, Trung đoàn 46, Trung đoàn 49, Trung đoàn 50 thuộc Sư đoàn 25 và điện đàm cả với bộ chỉ huy sư đoàn yêu cầu “tự cứu lấy mình”, buông súng để đỡ đổ máu.
Hầu hết các đơn vị khác của tuyến phòng thủ tây bắc (VNCH) đang rệu rã tinh thần càng thêm hoảng sợ khi nghe tin lực lượng ứng cứu cơ động đã phản chiến. Các đơn vị tuyến phòng thủ Củ Chi của VNCH tan rã dần. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 50 lui về rừng cao su cạnh chợ Củ Chi rồi tan hàng. Thiết đoàn 10 của thiếu tá Tuấn rời Lộc Giang, chia ra từng tốp nhỏ ba bốn chiếc chạy về Chà Rầy, đâm thẳng về hướng Củ Chi rồi tự giải tán. Tiểu khu Tây Ninh, Chi khu Trảng Bàng, Chi khu Gò Dầu tự tan hàng. Trung đoàn 49 và một số binh sĩ địa phương quân Đức Hòa lùi về tuyến phòng thủ của Biệt khu thủ đô, tan rã trên cánh đồng An Hạ.
Việc phản chiến của “thiếu tá” Lê Quang Ninh đã làm giảm đáng kể máu xương của quân Giải phóng ở tuyến phòng thủ mạn tây bắc Sài Gòn, giúp Quân đoàn 3 thuận lợi áp sát Sài Gòn.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ khởi nghĩa, phản chiến, đồng chí Lê Quang Ninh cùng Tiểu đoàn 1/50 di chuyển về Rạch Bùng Binh bàn giao cho Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Tại đây, vào ngày 7/5/1975, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Tây Ninh tổ chức mít-tinh trao thưởng “Huân chương Giải phóng hạng 3 cho toàn bộ 500 nghĩa binh của “Tiểu đoàn 1/50, Sư đoàn 25 VNCH”.
Ngày 30/4/1975, hai ngày sau “cuộc binh biến 28/4”, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, kết thúc chuỗi ngày tranh đấu với đế quốc Mỹ. Ngày 30/4 chính thức trở thành ngày kỉ niệm Giải Phóng Miền Nam.
30/4/2025 trở thành cột mốc đánh dấu 50 năm của sự kiện đáng nhớ và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Từ trái sang: Ông Ba Cao đại diện Ban Binh vận R, điệp viên Lê Quang Ninh, đại diện Huyện ủy Trảng Bàng và đại diện Tỉnh ủy Tây Ninh (Ảnh chụp 28/4/1975)
Sau 1975
Sau ngày thống nhất đất nước, đồng chí Lê Quang Ninh được điều về công tác tại Cơ quan phản gián của Công an TP HCM. Tại đây, ông tiếp tục tham gia phá nhiều vụ án gián điệp, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng.
Những năm sau, Ông được điều về Ban Cải Tạo Công Thương Nghiệp TP.HCM giữ vị trí Phó Ban, Ông đã giải quyết nhiều đơn khiếu kiện trả lại nhà đất và tài sản cho các gia đình nằm trong danh sách “Tiểu tư sản”.
Đến năm 1995, sau khi hoàn thành trọng trách được giao, Ông quyết định nghỉ hưu về xây dựng cơ sở sản xuất nhỏ chăm lo kinh tế cho gia đình.
Sau khi nghỉ hưu, Ông vẫn tích cực đóng góp các quỹ từ thiện Xoá đói- Giảm nghèo và hỗ trợ các nạn nhân Chất độc Màu da cam. Trong đó, quỹ từ thiện thường niên giúp các hộ nghèo ở Xã Đạo Thạnh, quê hương của Ông, vẫn được duy trì tiếp tục đến sau khi Ông mất.
Tháng 4/2011, ông Lê Quang Ninh cùng bà Nguyễn Thị Nhẫn (Tư Nhẫn) – nguyên cán bộ Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân Việt Nam.
Ngày 20/6/2018, Ông từ trần tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Hưởng thọ 77 tuổi.
